![]() |
Tính bảo mật và pháp lý của dịch vụ kê khai thuế qua mạng
Tính bảo mật và pháp lý của thủ tục hải quan điện tử Khi sử dụng dang ky chu ky so để giao thiệp online và thao tác các thủ tục hành chính điện tử như dịch vụ kê khai thuế qua mạng, khai báo thủ tục hải quan điện tử vnaccs vcis,… thì vấn đề đặt ra trước tiên cho người dùng là tính an ninh và pháp lý của chúng. Bài viết sau sẽ cung cấp cho người dùng cái nhìn tổng thể về các đặc tính này của chữ ký số. Tính an ninh Chữ ký số đã được chứng minh về mặt kỹ thuật đảm bảo an ninh, độc nhất và không thể giả mạo được. Chữ ký số được lưu trữ trong thiết bị đặc biệt (USB Token), bảo vệ bởi mật khẩu nên có mức bảo đảm an ninh cao. Token là thiết bị điện tử chuẩn xác người dùng. Token thường có dạng móc chìa khóa hoặc USB với màn hình tinh thể lỏng và nút nhấn tạo mã bí mật. Mỗi Token có một số series độc nhất gồm 8 hoặc 10 ký tự ở mặt dưới của Token và được gắn độc nhất với một khách hàng. Khi nhấn nút trên Token một dãy các mã số ngẫu nhiên sẽ xuất hiện (gồm 06 chữ số hiện ra trên màn hình phía trên Token) và thay đổi liên tiếp trong một khoảng thời gian nhất quyết (30 giây hoặc 60 giây). Mỗi một mã số của Token chỉ có hiệu lực duy nhất đối với một giao dịch tại một thời điểm nhất định và một khách hàng cụ thể. Chuỗi số được tạo ra theo thuật toán rất phức tạp mà cho đến nay chưa có trường hợp bẻ khóa thành công nào. Theo đó, một USB token có thể lưu trữ và bảo vệ nhiều chứng thư số và các cặp khóa tương ứng, nhưng USB token chỉ có duy nhất 1 mật khẩu bảo vệ. Khi sử dụng đổi thay mật khẩu có bật bộ gõ tiếng việt. Khuyến cáo người sử dụng không bật bộ gõ tiếng Việt khi đổi mật khẩu. Tính pháp lý Theo khoản 1, Điều 21 Luật giao dịch điện tử thì “Chữ ký điện tử được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh hoặc các hình thức khác bằng công cụ điện tử, gắn liền hoặc phối hợp một cách lô gíc với thông điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấp nhận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký.” Thông tư 180/2010/TT-BTC của Bộ Tài Chính công nhận tính pháp lý của hình thức giao tiếp điện tử sử dụng chữ ký số giữa người nộp thuế và cơ thuế quan. Như vậy, khi kê khai, nộp tờ khai thuế qua mạng có dùng chữ ký số, các hồ sơ thuế điện tử có giá trị tương đương như các hồ sơ thuế được gửi trực tiếp tới cơ thuế quan. |
Giá trị pháp lý của chữ kí điện tử khai hải quan điện tử được luật pháp Việt Nam dấn Theo Luật giao tế điện tử, đăng ký chữ ký số đã được dìm tại Việt Nam, có giá trị pháp lý rõ ràng và được ứng dụng rộng rãi trong nhiều giao du thương điện tử, và cả những giao du pháp lý như bao cao thue qua mang, nộp thuế điện tử vnaccs vcis,… ,…Điều 21 Luật giao thiệp điện tử Theo khoản 1, Điều 21 Luật giao du điện tử khai hải quan điện tử thì “Chữ ký điện tử được tạo dựng dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh hoặc các hình thức khác bằng công cụ điện tử, gắn liền hoặc phối hợp một cách lô gíc với thông điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và công nhận sự chấp nhận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký.” Điều 22 Luật giao tế điện tử Khoản 1, Điều 22 Luật giao thiệp điện đỗ vũ định: “Chữ ký điện tử được xem là đảm bảo an toàn nếu được kiểm chứng bằng một quy trình kiểm tra an toàn do các bên giao dịch thỏa thuận và đáp ứng được các điều kiện sau đây: a) Dữ liệu tạo chữ ký điện tử chỉ gắn duy nhất với người ký trong bối cảnh dữ liệu đó được sử dụng; b) Dữ liệu tạo chữ ký điện tử chỉ thuộc sự kiểm soát của người ký tại thời khắc ký; c) Mọi thay đổi đối với chữ ký điện tử sau thời điểm ký đều có thể bị phát hiện; d) Mọi thay đổi đối với nội dung của thông điệp dữ liệu sau thời điểm ký đều có thể bị phát hiện. Điều 24 Luật giao du điện tử Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử được quy định tại Điều 24, Luật giao tế điện tử như sau: 1. Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đó đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu chữ ký điện tử được sử dụng để ký thông điệp dữ liệu đó đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Phương pháp tạo chữ ký điện tử cho phép xác minh được người ký và chứng tỏ được sự chấp nhận của người ký đối với nội dung thông điệp dữ liệu; b) Phương pháp đó là đủ tin tưởng và ăn nhập với mục đích mà theo đó thông điệp dữ liệu được tạo ra và gửi đi. 2. Trong trường hợp luật pháp quy định văn bản cần được đóng dấu của cơ quan, tổ chức thì yêu cầu đó đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bởi chữ ký điện tử của cơ quan, tổ chức đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 22 của Luật giao thiệp điện tử và chữ ký điện tử đó có chứng thực. |
| Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 02:31 PM |
© 2008 - 2026 Nhóm phát triển website và thành viên SANGNHUONG.COM.
BQT không chịu bất cứ trách nhiệm nào từ nội dung bài viết của thành viên.