Viêm gan mạn là biểu đạt của nhiều loại thương tổn gan do nhiều loại nguyên cớ khác nhau trong đó viêm và hoại tử tế bào gan kéo dài > 6 tháng. Thể nhẹ là thể không tiến triển hoặc tiến triển rất chậm và không đưa đến xơ hoặc ung thư gan còn thể nặng là thể viêm hoại tử dập dồn hoặc nhiều đợt tiến triển tiến công vào tế bào gan để rồi rút cục đưa đến xơ và ung thư hóa. Viêm gan mạn gây ra do nhiều loại nguyên cớ thường gặp là sau viêm gan siêu vi nhất là B, C, và B kết hợp với D và gần đây là viêm gan mạn G; viêm gan mạn tự miễn, viêm gan mạn do thuốc.
1. Viêm gan mãn tính do vi-rút:
Triệu chứng rất mờ nhạt như: mỏi mệt, chán ăn, buồn nôn. Thể trạng bệnh nhân viêm gan mạn tính do vi-rút hầu như là thường ngày. Bệnh được phát hiện khi người bệnh có biểu đạt vàng da, gan to
Xem thêm:
Viêm gan do rượu
2. Viêm gan mạn tính tự miễn:
Khởi phát có thể là âm thầm hoặc đột ngột ở những đàn bà trẻ, trung niên. Triệu chứng hao hao như viêm gan mãn tính do vi-rút kèm theo những thương tổn ngoài gan nặng nề như: đau khớp, viêm cầu thận, rối loạn đông máu.
3. Viêm gan mạn tính do thuốc:
Sau khi dùng thuốc người bệnh có các biểu thị như: buồn nôn, đau nhiều ở hạ sườn phải, bụng trướng, sụt cân..xét nghiệm máu thấy men gan tăng.
Triệu chứng khởi đầu có thể trình bày những đợt rần rộ như trong viêm gan cấp (1/3 trường hợp), phần còn lại thường lặng thầm làm phần đông bệnh nhân không nhận biết được, thường chỉ trình diễn.# bởi triệu chứng cơ năng chung là mệt mỏi, cảm giác nặng tức vùng hạ sườn phải, nhiều lúc có đau cơ, đau khớp hoặc nhiều lúc chỉ có cảm giác nhức mỏi chung chung. Trong những đợt tiến triển, các triệu chứng thường phong phú và rầm rộ hơn với sốt, vàng da vàng mắt, nước đái vàng hoặc sẩm màu, đau cơ và đau khớp và nhất là đau tức vùng gan và ngứa. Khám thấy gan lớn vừa, căng chắc ấn đau tức, vàng da vàng mắt, hồng ban và dãn mạch hình sao. Có thể có lách lớn 30% nhất là khi đã có tăng áp cửa, kèm thêm có báng; hạch lớn 15-20% thường là hạch nách và hạch cổ.
Nguồn:
Viêm gan mạn